Mục tiêu:

 

Sinh và nuôi con khoẻ mạnh. Mẹ sớm phục hồi sức khỏe sau khi sinh.

 

Chế độ dinh dưỡng:

 

Đa dạng thực phẩm. Đầy đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng.

Dinh_duong_thai_ky

 

Thực hiện.

 

Trước khi mang thai:

 

Người mẹ cần có cân nặng hợp lý trước khi mang thai. Phụ nữ thiếu cân có thể khó thục thai, trẻ sinh ra nhẹ cân hay có vấn đề về sức khỏe.

 

Thừa cân làm tăng nguy cơ mẹ bị mắc các bệnh như cao huyết áp, đái tháo đường trong thời kì.

 

Trong suốt thời gian mang thai.

 

Nhu cầu năng lượng và dinh dưỡng cao hơn bình thường nhằm đáp ứng cho:

 

– Các hoạt động của cơ thể mẹ.

 

– Sự thay đổi của cỏ thể mẹ về chuyển hóa, tích lũy mỡ tăng cân, sự tăng về khối lượng của tử cung, vú…

 

– Sự phát triển của nhau thai và thai kỳ.

 

Khi nuôi con bú:

 

Nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng đòi hỏicao hơn mức bình thường và đáp ứng cho.

 

– Các hoạt động của cơ thể mẹ và chăm sóc con.

 

– Tạo sưã cho con bú.

 

Chất dinh dưỡng cung cấp cho thai nhi từ 3 nguồn.

 

– Trực tiếp từ khẩu phần ăn của người mẹ

 

– Từ kho dự trữ các chất dinh dưỡng của mẹ như ở gan, xương, khối mỡ.

 

– Từ quá trình tổng hợp các chất dinh dưỡng ở nhau thai.

 

– Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra các nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ dẫn đến trẻ sơ sinh có cân nặng thấp do:

 

– Tình trạng kém dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai.

 

– Những người mẹ có chế độ ăn không đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cần thiết trong quá trình mang thai, quá trình tăng cân của người mẹ trong quá trình mang thai dưới 7 kg.

 

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tỉ lệ trẻ sơ sinh có cân nặng thấp ở những nơi có điều kiện kinh tế khó khăn và thường tỉ lệ tới trên 15%. Ở nước ta hiện nay tỉ lệ trẻ sơ sinh cân nặng thấp cũng tới 14%.

 

– Một số các yếu tố khác cũng có thể ảnh hưởng đến cân nặng của trẻ sơ sinh thấp như: tuổi kết hôn của người mẹ dưới 18, khoảng cách sinh quá dày, những bà mẹ trong khi mang thai lao động nặng, không được nghĩ ngơi trước khi sinh đầy đủ. Những yếu tố bệnh tật của người mẹ và sinh thiếu tháng cũng góp phần làm cho trẻ có cân nặng sơ sinh thấp tăng cao.

 

Nhu cầu dinh dưỡng:

 

– Trong 3 tháng đầu thai kỳ, không tăng so với khi không có thai, nhiều thai phụ bị ốm nghén lượng thức ăn vào giảm dẫn đến sụt cân.

 

– Phôi vẫn phát triển bình thường nhờ dưỡng chất lấy dự trữ từ cơ thể mẹ. Lượng dưỡng chất cần thiết không lớn vì phôi còn nhỏ và cơ thể mẹ đáp ứng được. Hơn nữa dưỡng chất bao giờ cũng được ưu tiên đáp ứng cho phôi thai đang nằm trong bụng mẹ.

 

Trong 6 tháng cuối.

 

– Nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng tăng rõ rệt so với khi không có thai cụ thể tăng từ 10 – 30%.

 

Thai phụ trong giai đoạn này tăng cảm giác ngon miệng ăn nhiều hơn, đáp ứng đủ năng lượng và dưỡng chất.

 

– Hơn nữa cơ thể lúc này có những đáp ứng thích nghi như thai phụ lúc này ít hoạt động hơn, năng lượng tiêu hao cơ bản giảm, dạ dày và ruột hấp thu dưỡng chất hiệu quả hơn đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng.

 

Nhu cầu về năng lượng

 

Trong sáu tháng cuối:

 

Nhu cầu về năng lượng để đáp ứng cho:

 

– Sự phát triển và hoạt động sinh lý của thai nhi

 

– Sự phát triển của tử cung.

 

– Chuyển hóa cơ sở của cơ thể mẹ tăng.

 

– Cơ thể mẹ tăng trọng lượng.

 

– Khuyến nghị ở sáu tháng cuối thai kỳ, nhu cầu năng lượng của người mẹ là 2550kcal/ngày, năng lượng tăng thêm so với người bình thương là 350kcal.

 

Nhu cầu về protein:

 

Nhu cầu về protein tăng lên để đảm bảo cho sự phát triển của thai nhi, nhau thai và các mô của mẹ. Lượng protein của người mẹ có thai tăng lên so với bình thường trung bình là 10g/ngày, 6 tháng cuối tưng lên 15g/ngày.

 

Chất khoáng:

 

– Canxi: cần thiết cho qua trình hình thành xương trẻ, nhu cầu canxi của phụ nữ mang thai 6 tháng cuối là 1000mg/ngày.

 

– Sắt: Ngoài lượng sắt cho thai nhi, người mẹ càn cần cho quá trình hình thành nhau thai.

 

– Nhu cầu về sứt trong khẩu phần là 30mg/ngày.

 

– Tuy nhiên, việc đảm bảo cho nhu cầu sắt ở nước ta bằng thức ăn còn nhiều khóa khăn chính vì vậy chương trình phòng chống thiếu máu dnh dưỡng đã được triển khai cho các phụ nữ mang thai uống viên sắt vào thai kỳ thứ 2 , mỗi ngày uống một viên sắt có hàm lượng là 60mg.

 

– Cũng cần chú ý thức ăn trong khẩu phần giúp tăng hấp thu sắt như vitamin C, thiếu máu do thiếu sắt khi mang thai cũng có thể làm tăng nguy cơ làm cho trẻ sơ sinh nhẹ cân, trẻ bị bệnh thiếu máu trong 1-2 năm đầu.

 

– Iod: Người mẹ trước và trong quá trình mang thai bị thiếu iod sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng cho sự phát triển thai nhi có thể dẫn tới những dị tật bẩm sinh, ngu đần.

 

– Folat: Nhu cầu tăng lên trong suốt qua trình mang thai, do nó tham gia vào quá trinh AND,ARN, tham gia vào quá trình phân chia tế bào và quá trình tạo hồng cầu. Nhu cầu folat đối với phụ nữ mang thai là 400mcg/ngày.

 

– Vitamin D: nhu cầu cho phụ nữ có thai là 400 IU/ngày, nhu cầu này tăng gấp đôi so với phụ nữ không mang thai. Nhu cầu đó đảm bảo cho vitamin D đi qua nhau tham gia vào quá trình chuyển hóa xây dựng xương của thai nhi.

 

Chế độ ăn:

 

Trong thời kỳ mang thai cần chú ý đảm bảo nhu cầu năng lượng, đủ các chất dinnh dưỡng cần thiết, cần chọn các loại thực phẩm có hàm lượng protein cao. Trong chế độ ăn của phụ nữ mang thai không nên ăn kiêng quá mức.

 

 

Thực phẩm nên tránh trong quá trình mang thai.

 

– Không nên dung các chất kích thích như rượu, café, thuốc lá, nước chè đặc.

 

– Giảm ăn các gia vị như: ớt, hạt tiêu, tỏi, giấm…

 

Theo ykhoa.net